| II. NGƯỜI CHA TRONG DỤ NGÔN (tiếp theo) |
| 2. Lòng khoan dung nhân từ của Thiên Chúa. |
|
Qua bài dụ ngôn “người con hoang đàng”, Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta tình yêu cao vời của Thiên Chúa. |
| Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta có tự do, |
| Ngài cũng muốn đối xử với chúng ta như một con người có tự do. |
| Đó là điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta |
| qua hình ảnh một người cha không muốn cứ khư khư giữ lấy đứa con, |
| trái lại, |
| ông đã chia gia tài cho nó, để nó được tự do xử dụng tất cả những gì thuộc về nó. |
| Nhưng cho dẫu người con có lên đường ra đi tạo lập một cuộc sống riêng |
| thì người cha vẫn không ngừng theo dõi, chờ đợi đứa con. |
| Ông khắc khoải từng giây từng phút, ngày ngày ra trước ngõ để ngóng trông chờ đợi đứa con trở về và khi vừa thấy đứa con xuất hiện, |
| ông vội vã chạy ra, |
| ôm lấy cổ đứa con và hôn nó tới tấp. |
| Ông đưa nó vào nhà, nhà của nó mà! |
| Ông nói với các đầy tớ: |
| Mau lên, |
| Phải mặc cho cậu chiếc áo đẹp nhất, |
| Xỏ nhẫn vào ngón tay cậu, |
| Mang giầy vào chân cậu. |
| Mau lên, |
| dọn tiệc ăn mừng, |
| vì “con ta đã chết nay sống lại, |
| đã mất nay lại tìm thấy”. |
| Có lẽ trong văn chương nhân loại từ cổ chí kim, chưa có một áng văn nào lại tuyệt vời như thế. |
| Thiên Chúa yêu thương con người đến độ luôn khắc khoải tìm kiếm, ngóng trông con người từng giây, từng phút. |
| Và Thiên Chúa đã ngóng trông chờ đợi như thế nào? |
| Câu chuyện kể rằng, có một người đạo đức nọ, |
| khao khát tìm gặp Thiên Chúa, |
| ông đi khắp nơi để thụ giáo với những bậc thánh hiền, |
| ông vùi đầu vào những pho sách dầy cộm, |
| nhưng vẫn không gặp được Chúa. |
| Một ngày nọ, ông đến một dòng sông, ngồi thơ thẩn nhìn dòng nước trôi lững lờ, |
| ông bỗng thấy một con vịt mẹ và một đàn vịt con đang bơi lội. |
| Đàn vịt con tinh nghịch cứ muốn rời xa mẹ. |
| Còn vịt mẹ thì lúc nào cũng phải canh chừng hết con này đến con khác. |
| Phải vất vả như vậy nhưng vịt mẹ không hề tỏ vẻ giận giữ hay gắt gỏng. |
| Nhìn hình ảnh đó, người đạo đức mỉm cười mãn nguyện. |
| Ông chợt khám phá ra một sự thật |
| “bấy lâu nay tôi đã đi tìm Thiên Chúa |
| và cuối cùng tôi đã khám phá ra rằng |
| chính Thiên Chúa lại đang đi tìm tôi”. |
| Con vịt mẹ không ngừng đi tìm kiếm con mình, |
| Thiên Chúa cũng không ngừng đi tìm kiếm con người như vậy. |
| Quả thực Thiên Chúa luôn đi tìm kiếm con người |
| và Thiên Chúa cứ phải tìm kiếm và tìm kiếm mãi. |
| Thiên Chúa chính là người cha trong dụ ngôn. |
| Một người cha có hai đứa con và lúc nào cũng như thấy mất một. |
| – Đứa con thứ dại dột, bỏ nhà ra đi với những kẻ xấu nết. Ông tưởng chừng như đã mất, nhưng nó đã quay trở về. |
| – Đang khi người con thứ trở về, ông lại phải chạy ra năn nỉ người con cả vào nhà. |
| Anh không chịu vào vì anh không thể tha thứ cho người em tội lỗi. |
| Anh không chịu vào vì sợ quyền lợi của anh bị xâm phạm.
Anh không chịu vào, vì anh không cảm nhận được tấm lòng nhân hậu của người cha. |
| Thiên Chúa là như thế đó. |
| Nỗi khổ tâm của Thiên Chúa là như thế đó. |
| Và một điều làm chúng ta suy nghĩ “hình như niềm vui của Thiên Chúa không có lúc nào được trọn vẹn khi ở giữa Dân Người”. |
|
Vì lúc nào Thiên Chúa cũng như thấy mất một. |
|
Lm.Giuse Đỗ Văn Thụy |
|
HỘI THỪA SAI VIỆT NAM |
Lòng Chúa thương xót Cộng đoàn LCTX TGP Sài Gòn